Wednesday, October 16, 2013

Sự dụng phiếu thu phí dịch vụ của Ngân hàng kiêm hóa đơn GTGT được sử dụng như thế nào?

* Tại công văn sô 2550/TCT-CS ngày 27 tháng 06 năm 2012 của Tổng cục Thuế trả lời công văn số 2065/CV.KT.12 ngày 12/03/2012 củ a Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu đề nghị hướng dẫn vướng mắc về việc sử dụng Phiếu thu phí dịch vụ của Ngân hàng. Tổng cục Thuế đã hướng dẫn:
            1. Tại câu hỏi số 3 công văn số 1005/TCT-CS ngày 28/03/2012 của Tổng cục Thuế đã hướng dẫn về việc sử dụng phiếu thu phí dịch vụ ngân hàng kiêm hóa đơn GTGT như sau:
“Câu hỏi 3: Mẫu hóa đơn của các ngân hàng, tổ chức tín dụng có tính đặc thù thì thực hiện như thế nào?
Trả lời:
1. Về loại, hình thức, nội dung hóa đơn
Tại khoản 2đ Điều 3 Thông tư 153 hướng dẫn về các loại hóa đơn:
“đ) Phiếu thu tiền cước vận chuyển hàng không; chứng từ thu cước phí vận tải quốc tế; chứng từ thu phí dịch vụ ngân hàng…, hình thức và nội dung được lập theo thông lệ quốc tế và các quy định của pháp luật có liên quan.”
Tại khoản 1a Điều 4 Thông tư 153 hướng dẫn:
“a) Tên loại hóa đơn
Tên loại hóa đơn thể hiện trên mỗi tờ hóa đơn. Ví dụ: HÓA ĐƠN GIÁ TRỊ GIA TĂNG, HÓA ĐƠN BÁN HÀNG…
Trường hợp hóa đơn còn dùng như một chứng từ cụ thể cho công tác hạch toán kế toán hoặc bán hàng thì có thể đặt thêm tên khác kèm theo, nhưng phải ghi sau tên loại hóa đơn với cỡ chữ nhỏ hơn hoặc ghi trong ngoặc đơn.”
Căn cứ theo hướng dẫn nêu trên, trường hợp các chứng từ thu phí trong hoạt động dịch vụ của các ngân hàng, tổ chức tín dụng là các chứng từ giao dịch được in từ trong hệ thống và các nội dung phù hợp với thông lệ quốc tế (thông tin giao dịch), thông tin phí đã được xây dựng trong chương trình giao dịch, khi hoàn thành giao dịch chứng từ hiển thị nội dung giao dịch, các tiêu chí cần thiết theo quy định của chế độ chứng từ, thông tin về thuế (số tiền giao dịch, thuế suất, tiền thuế GTGT, tổng số tiền thanh toán thực hiện phát sinh thu phí dịch vụ) đã hiển thị đầy đủ trên chứng từ, trên mỗi một chứng từ có một tham chiếu giao dịch xác định đảm bảo tính duy nhất trong toàn hệ thống, đáp ứng được yêu cầu quản lý và phù hợp với mục tiêu tăng cường sự chủ động cho doanh nghiệp) thì các Ngân hàng, Tổ chức tín dụng được sử dụng chứng từ giao dịch hiện hành kiêm hóa đơn GTGT hoặc hóa đơn bán hàng với tên gọi “Chứng từ giao dịch”.
Trường hợp các mẫu chứng từ giao dịch được sử dụng cho kinh doanh dịch vụ chịu thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp và dịch vụ chịu thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ đã được cơ quan thuế chấp thuận trước 01/01/2011 thì các ngân hàng, tổ chức tín dụng được tiếp tục sử dụng những chứng từ này để phục vụ hoạt động kinh doanh của mình.
2. Số liên hóa đơn
Tại Điểm 4 công văn số 17716/BTC-TCT ngày 27/12/2010 của Bộ Tài chính đã hướng dẫn: “Trường hợp do đặc điểm hoạt động kinh doanh, nhu cầu sử dụng thực tế, mỗi số hóa đơn của doanh nghiệp có nhiều hơn 9 liên thì cũng được chấp thuận. Bộ Tài chính giao Cục thuế xem xét và có văn bản chấp thuận hóa đơn có nhiều hơn 9 liên theo đề nghị của doanh nghiệp.”
Căn cứ hướng dẫn trên, ngân hàng, tổ chức tín dụng sử dụng liên 1 hóa đơn để lưu, liên 2 hóa đơn để giao cho người mua và sử dụng các liên khác để phục vụ hoạt động kinh doanh của mình.
3. Phát hành hóa đơn

Trường hợp các ngân hàng, tổ chức tín dụng và các chi nhánh ngân hàng, tổ chức tín dụng sử dụng chứng từ giao dịch kiêm hóa đơn thu phí dịch vụ thì ngân hàng, tổ chức tín dụng chỉ cần gửi thông báo phát hành hóa đơn kèm theo hóa đơn mẫu tới cơ quan thuế quản lý, đăng ký cấu trúc tạo số hóa đơn, không phải đăng ký trước số lượng hóa đơn phát hành.”

No comments:

Post a Comment